Bài nghiên cứu

Một số yếu tố liên quan đến giấc ngủ ở bệnh nhân đột quỵ não

bia 1
Tiểu sử các tác giả
  • Món Thị Uyên Hồng ( Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên ) - Tác giả
  • Nguyễn Thị Minh Nguyệt ( Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên ) - Tác giả
  • Lê Thị Quyên ( Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên ) - Tác giả

DOI:

https://doi.org/10.62511/vjn.48.2026.088

Từ khóa:

đột quỵ não chất lượng giấc ngủ PSQI NIHSS mRS

Lượt tải xuống

Đã xuất bản

04-05-2026

Số tạp chí

Chuyên mục

Các bài nghiên cứu

Thể loại

Cách trích dẫn

Món, Thị Uyên Hồng, Thị Minh Nguyệt Nguyễn, and Thị Quyên Lê , trans. 2026. “Một số yếu tố Liên Quan đến giấc ngủ ở bệnh nhân đột quỵ não”. Tạp Chí thần Kinh học Việt Nam 1 (48): 32-40. https://doi.org/10.62511/vjn.48.2026.088.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm giấc ngủ và phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân đột quỵ não tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 53 bệnh nhân đột quỵ não điều trị tại Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 12 năm 2025. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá bằng thang điểm Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI), thời gian tiềm giấc ngủ, thời gian ngủ thực tế và hiệu suất giấc ngủ. Mức độ nặng của đột quỵ được đánh giá bằng thang điểm NIHSS và mức độ tàn tật chức năng bằng thang điểm modified Rankin Scale (mRS) tại thời điểm vào viện và sau 3 tháng. Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng, nhân khẩu học – xã hội với chất lượng giấc ngủ.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 68,03 ± 1,41; Nam giới chiếm tỉ lệ lớn hơn (56.6%) so với nữ giới (43.4%). Trước khi bị đột quỵ, 90,6% bệnh nhân ngủ ≥6 giờ/đêm; 50,9% thường xuyên thức giấc ban đêm và 30,2% tự đánh giá có tình trạng ngủ kém kéo dài. Sau đột quỵ, thời gian tiềm giấc ngủ trung bình là 58,77 ± 49,40 phút; thời gian ngủ trung bình là 5,87 ± 1,47 giờ/đêm; hiệu suất giấc ngủ trung bình đạt 74,72 ± 18,77%, trong đó 47,2% bệnh nhân có hiệu suất giấc ngủ kém (<75%). Điểm PSQI trung bình là 9,00 ± 6,62; 58,5% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI >5). Điểm NIHSS và mRS tại thời điểm vào viện và sau 3 tháng có liên quan chặt chẽ đến hiệu suất giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ (p<0,001). Ngoài ra, tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập và người ngủ cùng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm có chất lượng giấc ngủ tốt và kém (p<0,05).
Kết luận: Mức độ nặng của đột quỵ và mức độ tàn tật chức năng là các yếu tố liên quan độc lập đến chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân sau đột quỵ. Các yếu tố nhân khẩu học và xã hội có liên quan trong phân tích đơn biến nhưng không còn ý nghĩa sau khi điều chỉnh, gợi ý vai trò chi phối của tổn thương thần kinh đối với rối loạn giấc ngủ. Việc đánh giá và can thiệp rối loạn giấc ngủ cần được chú trọng trong chăm sóc và phục hồi chức năng sau đột quỵ.

Tài liệu tham khảo

Johnson CO, Nguyen M, Roth GA, et al. Global, regional, and national burden of stroke, 1990–2016: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2016. Lancet Neurol. 2019;18(5):439-458. doi:10.1016/S1474-4422(19)30034-1 DOI: https://doi.org/10.1016/S1474-4422(19)30034-1

Berkman ND, Sheridan SL, Donahue KE, Halpern DJ, Crotty K. Low health literacy and health outcomes: an updated systematic review. Ann Intern Med. 2011;155(2):97-107. DOI: https://doi.org/10.7326/0003-4819-155-2-201107190-00005

Slopen N, Lewis TT, Williams DR. Discrimination and sleep: a systematic review. Sleep Med. 2016;18:88-95. DOI: https://doi.org/10.1016/j.sleep.2015.01.012

Ohayon MM, Carskadon MA, Guilleminault C, Vitiello MV. Meta-analysis of quantitative sleep parameters from childhood to old age in healthy individuals: developing normative sleep values across the human lifespan. Sleep. 2004;27(7):1255-1273. DOI: https://doi.org/10.1093/sleep/27.7.1255

Buysse DJ, Reynolds CF, Monk TH, Berman SR, Kupfer DJ. The Pittsburgh sleep quality index: a new instrument for psychiatric practice and research. Psychiatry Res. 1989;28(2):193-213. doi:10.1016/0165-1781(89)90047-4 DOI: https://doi.org/10.1016/0165-1781(89)90047-4

Al-Alao BS, Parissis H, McGovern E, Tolan M, Young VK. Propensity analysis of outcome in coronary artery bypass graft surgery patients >75 years old. Gen Thorac Cardiovasc Surg. 2012;60(4):217-224. doi:10.1007/s11748-011-0875-0 DOI: https://doi.org/10.1007/s11748-011-0875-0

Mohandas P, et al. A systematic review and meta-analysis on the identification of predictors associated with insomnia or sleep disturbance in post-stroke patients. Cureus. 2024;16(3):e56578. doi:10.7759/cureus.56578 DOI: https://doi.org/10.7759/cureus.56578

Thuan DD, Thao PN, Tuan TM. Nghiên cứu tỷ lệ mất ngủ và một số yếu tố liên quan với mất ngủ ở bệnh nhân nhồi máu não. VMJ. 2024;538(3). doi:10.51298/vmj.v538i3.9596 DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v538i3.9596

Zhang Y, et al. Relationship between sleep disorders and the prognosis of neurological function after stroke. Front Neurol. 2022;13:1036980. doi:10.3389/fneur.2022.1036980 DOI: https://doi.org/10.3389/fneur.2022.1036980

Các bài báo tương tự

21-30 của 106

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.