Một số yếu tố liên quan đến suy giảm nhận thức sau nhồi máu não vùng chiến lược
DOI:
https://doi.org/10.62511/vjn.47.2025.076Từ khóa:
Suy giảm nhận thức nhồi máu não vùng chiến lượcLượt tải xuống
Đã xuất bản
Số tạp chí
Chuyên mục
Thể loại
Cách trích dẫn
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích một số yếu tố liên quan tới rối loạn nhận thức sau nhồi máu não vùng chiến lược.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 người bệnh đã chẩn đoán nhồi máu não vùng chiến lược điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 08/2024 đến 08/2025. Công cụ sàng lọc suy giảm nhận thức: thang điểm Montreal Cognitive Assessment (MoCA) và thời điểm 3 tháng sau chẩn đoán đột quỵ. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả: Nghiên cứu trên 44 bệnh nhân tại thời điểm sau 3 tháng sau nhồi máu não vùng chiến lược, ghi nhận tỷ lệ suy giảm nhận thức (SGNT) là 34,1%, tỷ lệ sa sút trí tuệ (SSTT) là 43,2%. Nhóm người bệnh < 65 tuổi, nghề nghiệp liên quan đến lao động trí óc, trình độ học vấn cao, không có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường có điểm MoCA trung bình cao hơn và tỷ lệ SGNT thấp hơn.
Kết luận: Tỷ lệ suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ sau nhồi máu não vùng chiến lược theo thang điểm MoCA là cao. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền sử bệnh lý đến SGNT sau đột quỵ. Việc sàng lọc suy giảm nhận thức và quản lý các yếu tố nguy cơ mạch máu trên người bệnh nhồi máu não vùng chiến lược là cần thiết.
Tài liệu tham khảo
Truyen TTTT, Vo NLY, Vo QP, et al. Burden and risk factors of stroke in Vietnam from 1990 to 2021 - a systematic analysis from global burden disease 2021. J Stroke Cerebrovasc Dis Off J Natl Stroke Assoc. 2025;34(3):108241. doi:10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2025.108241
DOI: https://doi.org/10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2025.108241
Rathore SS, Hinn AR, Cooper LS, Tyroler HA, Rosamond WD. Characterization of incident stroke signs and symptoms: findings from the atherosclerosis risk in communities study. Stroke. 2002;33(11):2718-2721. doi:10.1161/01.str.0000035286.87503.31
DOI: https://doi.org/10.1161/01.STR.0000035286.87503.31
Wolf ME, Sauer T, Kern R, Szabo K, Hennerici MG. Multiple subcortical acute ischemic lesions reflect small vessel disease rather than cardiogenic embolism. J Neurol. 2012;259(9):1951-1957. doi:10.1007/s00415-012-6451-4
DOI: https://doi.org/10.1007/s00415-012-6451-4
Tatemichi TK, Desmond DW, Prohovnik I. Strategic infarcts in vascular dementia. A clinical and brain imaging experience. Arzneimittelforschung. 1995;45(3A):371-385.
Cumming TB, Bernhardt J, Linden T. The montreal cognitive assessment: short cognitive evaluation in a large stroke trial. Stroke. 2011;42(9):2642-2644. doi:10.1161/STROKEAHA.111.619486
DOI: https://doi.org/10.1161/STROKEAHA.111.619486
Jankowska A, Hadław-Klimaszewska O, Rakoczy J, Woldańska-Okońska M, Irzmański R. THE IMPACT OF REHABILITATION ON THE RECOVERY OF EXECUTIVE FUNCTIONS IN STROKE PATIENTS WITH DIFFERENT LOCATION OF THE ISCHEMIC FOCUS. Int J Occup Med Environ Health. 37(4):452-467. doi:10.13075/ijomeh.1896.02129
DOI: https://doi.org/10.13075/ijomeh.1896.02129
Nguyễn Xuân Thanh. Ảnh hưởng của một số yếu tố nhân khẩu học đến trắc nghiệm đánh giá nhận thức Montreal. Tạp Chí Dược Lâm Sàng 108. 2020;15(5).
Shin M, Sohn MK, Lee J, et al. Effect of Cognitive Reserve on Risk of Cognitive Impairment and Recovery After Stroke. Stroke. 2020;51(1):99-107. doi:10.1161/STROKEAHA.119.026829
DOI: https://doi.org/10.1161/STROKEAHA.119.026829
Aam S, Einstad MS, Munthe-Kaas R, et al. Post-stroke Cognitive Impairment-Impact of Follow-Up Time and Stroke Subtype on Severity and Cognitive Profile: The Nor-COAST Study. Front Neurol. 2020;11:699. doi:10.3389/fneur.2020.00699
DOI: https://doi.org/10.3389/fneur.2020.00699


