Bài nghiên cứu

Tỉ lệ và yếu tố nguy cơ suy giảm nhận thức sau đột quỵ: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện ở môi trường bệnh viện

bia 1
Tiểu sử các tác giả
  • Tống Mai Trang ( Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Nguyễn Vĩnh Khang ( Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Phạm Thị Ngọc Quyên ( Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Đào Duy Khoa ( Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Phạm Chí Đức ( Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Nguyễn Đức Thắng ( Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Đặng Huy Hoàng ( Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ) - Tác giả
  • Nguyễn Bá Thắng ( Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Bệnh viện Đại học Y Dư ợ c TP. Hồ Chí Minh ) - Tác giả

DOI:

https://doi.org/10.62511/vjn.48.2026.091

Từ khóa:

đột quỵ suy giảm nhận thức sau đột quỵ sa sút trí tuệ VnCA NIHSS VASCOG

Lượt tải xuống

Đã xuất bản

04-05-2026

Số tạp chí

Chuyên mục

Các bài nghiên cứu

Thể loại

Cách trích dẫn

Tống, Mai Trang, Vĩnh Khang Nguyễn, Thị Ngọc Quyên Phạm, Duy Khoa Đào, Chí Đức Phạm, Đức Thắng Nguyễn, Huy Hoàng Đặng, and Bá Thắng Nguyễn , trans. 2026. “Tỉ lệ Và yếu tố Nguy Cơ Suy giảm nhận thức Sau đột quỵ: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện ở môi trường bệnh viện”. Tạp Chí thần Kinh học Việt Nam 1 (48): 55-67. https://doi.org/10.62511/vjn.48.2026.091.

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Suy giảm nhận thức sau đột quỵ (post-stroke cognitive impairment, PSCI) thường gặp và làm tăng gánh nặng tàn phế, nhưng dữ liệu tiến cứu tại môi trường bệnh viện ở Việt Nam còn hạn chế.
Mục tiêu: Ước tính tỷ lệ sa sút trí tuệ (SSTT) sau 6 tháng và xác định các yếu tố liên quan ở người bệnh đột quỵ.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, tuyển liên tiếp người bệnh đột quỵ nhồi máu não hoặc xuất huyết não điều trị nội trú (IQCODE < 3,6; tuổi 60–80; học vấn ≥ 5 năm). Thu thập dữ liệu nhân khẩu học, lâm sàng, yếu tố nguy cơ mạch máu và hình ảnh học trong đợt nội trú. Sau 6 tháng, đánh giá nhận thức bằng bộ test VnCA và chẩn đoán SSTT theo tiêu chuẩn VASCOG. Tính điểm z theo lĩnh vực (trí nhớ, chức năng điều hành, ngôn ngữ) và so sánh giữa hai nhóm bằng Wilcoxon với hiệu chỉnh Holm. Hồi quy logistic Firth đa biến được dùng để dự báo SSTT theo tuổi, học vấn, giới và NIHSS lúc nhập viện; báo cáo odds ratio hiệu chỉnh (aOR) và KTC 95%.
Kết quả: Có 223 người bệnh được đưa vào theo dõi, trong đó 44 người hoàn thành đánh giá nhận thức tại mốc 6 tháng. Tuổi trung vị 67 [63–70], nam 54,5%; NIHSS lúc nhập viện 4,0 [1,25–7,0]. Tỷ lệ SSTT sau 6 tháng là 45,5% (20/44). Nhóm SSTT có mức độ đột quỵ nặng hơn (NIHSS trung vị 6,0 so với 3,0). Các điểm z theo lĩnh vực thấp hơn rõ rệt ở nhóm SSTT, nổi bật ở chức năng điều hành (−1,17 so với 0,19), ngôn ngữ (−1,08 so với −0,30) và trí nhớ (−2,86 so với −1,37) (p hiệu chỉnh Holm < 0,01). Trong mô hình hồi quy logistic Firth đa biến, NIHSS lúc nhập viện liên quan độc lập với SSTT (aOR 1,23 mỗi 1 điểm; KTC 95% 1,04–1,55; p=0,0095).
Kết luận: Sa sút trí tuệ sau 6 tháng ở người bệnh đột quỵ trong môi trường bệnh viện khá thường gặp. Mức độ nặng của đột quỵ (NIHSS) là yếu tố dự báo quan trọng, gợi ý cần sàng lọc nhận thức có hệ thống và theo dõi dọc, đặc biệt tập trung vào suy giảm chức năng điều hành và ngôn ngữ.

Tài liệu tham khảo

Mellon L, Brewer L, Hall P, Horgan F, Williams D, Hickey A. Cognitive impairment six months after ischaemic stroke: a profile from the ASPIRE-S study. BMC Neurol. Mar 12 2015;15:31. doi:10.1186/s12883-015-0288-2

Kandiah N, Chander RJ, Lin X, et al. Cognitive Impairment after Mild Stroke: Development and Validation of the SIGNAL2 Risk Score. J Alzheimers Dis. 2016;49(4):1169-77. doi:10.3233/jad-150736

Lê Nguyễn Nhựt T, Vũ Anh N, Phạm Văn Ý. Tần suất và yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quỵ: khảo sát tiền cứu 218 bệnh nhân tại khoa thần kinh Bệnh Viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2008;Tập 12 Số 1

Sachdev P, Kalaria R, O‘Brien J, et al. Diagnostic criteria for vascular cognitive disorders: a VASCOG statement. Alzheimer Dis Assoc Disord. Jul-Sep 2014;28(3):206-18. doi:10.1097/wad.0000000000000034

Nguyen TTT, Do TL, Tran HTT, Kilimann I, Tran CT. Normative data for Vietnamese population: Effects of age, education, and sex on test performance. J Int Neuropsychol Soc. Aug 2025;31(7-8):573-581. doi:10.1017/s1355617725101100

Tombaugh TN, McIntyre NJ. The mini-mental state examination: a comprehensive review. J Am Geriatr Soc. Sep 1992;40(9):922-35. doi:10.1111/j.1532-5415.1992.tb01992.x

Chander RJ, Lam BYK, Lin X, et al. Development and validation of a risk score (CHANGE) for cognitive impairment after ischemic stroke. Scientific Reports. 2017/09/29 2017;7(1):12441. doi:10.1038/s41598-017-12755-z

Chaudhari TS, Verma R, Garg RK, Singh MK, Malhotra HS, Sharma PK. Clinico-radiological predictors of vascular cognitive impairment (VCI) in patients with stroke: a prospective observational study. J Neurol Sci. May 15 2014;340(1-2):150-8. doi:10.1016/j.jns.2014.03.018

Srikanth VK, Anderson JF, Donnan GA, et al. Progressive dementia after first-ever stroke: a community-based follow-up study. Neurology. Sep 14 2004;63(5):785-92. doi:10.1212/01.wnl.0000137042.01774.33

Ingles JL, Wentzel C, Fisk JD, Rockwood K. Neuropsychological predictors of incident dementia in patients with vascular cognitive impairment, without dementia. Stroke. Aug 2002;33(8):1999-2002. doi:10.1161/01.str.0000024433.36590.1b

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

Các bài báo tương tự

1-10 của 106

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.