Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị co thắt nửa mặt nguyên phát bằng abobotulinumtoxinA (Dysport®) tại Trung tâm Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả quan sát, theo dõi dọc, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 60 bệnh nhân co thắt nửa mặt nguyên phát được điều trị bằng botulinum toxin A. Mức độ co thắt được đánh giá bằng thang điểm Jankovic trước tiêm, sau 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng; chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng HFS-7 trước và sau tiêm; hiệu quả tổng thể được phân loại theo thang điểm Soulayrol. Sự thay đổi Jankovic được phân tích bằng kiểm định Friedman và kiểm định dấu và hạng Wilcoxon; điểm HFS-7 trước và sau điều trị được so sánh bằng kiểm định dấu và hạng Wilcoxon; mối liên quan giữa các biến phân loại được đánh giá bằng kiểm định chính xác Fisher.
Kết quả: Nữ giới chiếm 66,7%; tuổi trung bình 55,13 ± 8,58 tuổi. Co thắt khởi phát ở cơ vòng mi chiếm 78,3%; bên phải 53,3%. Điểm Jankovic trước tiêm là 2,75 ± 0,73. Liều Dysport trung bình là 83,28 ± 17,32 U, dao động từ 52 đến 115 U, nhóm liều 60–100 U (Dysport) chiếm tỷ lệ cao nhất (63,3%). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa liều Dysport với hiệu quả điều trị hoặc tác dụng không mong muốn (p > 0,05). Thời gian bắt đầu đáp ứng trung bình 4,27 ± 3,02 ngày, đạt hiệu quả tối đa sau 3,12 ± 2,42 tuần và duy trì 4,35 ± 1,33 tháng. Điểm Jankovic giảm còn 0,93 ± 0,55 sau 2 tuần, 0,85 ± 0,63 sau 1 tháng và 1,73 ± 0,78 sau 3 tháng (Friedman p < 0,001). Điểm HFS-7 giảm từ 13,48 ± 4,88 xuống 6,03 ± 4,21 (p < 0,001). Tỷ lệ điều trị có hiệu quả là 95,0%, trong đó hiệu quả tốt chiếm 83,3%. Có 35,0% bệnh nhân gặp ít nhất một tác dụng không mong muốn; sụp mi thường gặp nhất (25,0%). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh hoặc mức độ co thắt trước tiêm với hiệu quả điều trị (p > 0,05).
Kết luận: Botulinum toxin A giúp cải thiện rõ mức độ co thắt và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân co thắt nửa mặt nguyên phát. Hiệu quả xuất hiện tương đối sớm, duy trì trung bình hơn 4 tháng và các tác dụng không mong muốn chủ yếu khu trú.