Tóm tắt
Bài tổng quan của tác giả Phạm Thị Ngọc Linh và Võ Hồng Khôi mô tả các đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ tĩnh mạch não (MRV) trong huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN), một thể đột quỵ hiếm gặp chiếm 0,5-1% các trường hợp đột quỵ, tỷ lệ mới mắc 5/1.000.000 dân mỗi năm, thường gặp ở người trẻ tuổi (78% dưới 50 tuổi). Các tổn thương nhu mô não trong HKTMN bao gồm phù vận mạch (khác với phù độc tế bào trong nhồi máu não do thiếu máu cục bộ động mạch, có thể phân biệt qua hình ảnh DWI/ADC), nhồi máu tĩnh mạch (đặc trưng bởi tổn thương nhiều ổ, không thuộc khu vực tưới máu động mạch, khu trú dưới vỏ với ranh giới không rõ, tương ứng với vùng dẫn lưu của tĩnh mạch), và xuất huyết nhu mô não (gặp ở tới 1/3 số trường hợp, được phát hiện tốt nhất bằng chuỗi xung T2*). Huyết khối tĩnh mạch não sâu (16% số trường hợp) thường gây phù đồi thị hai bên, trong khi huyết khối tĩnh mạch vỏ đơn độc (2-5% số trường hợp) được xác định tốt nhất qua chuỗi xung GRE T2* với hình ảnh giảm tín hiệu quá mức do hiệu ứng nhạy từ. Tín hiệu của cục huyết khối thay đổi qua các giai đoạn thời gian đặc trưng: giai đoạn cấp rất sớm (1-5 ngày, đồng tín hiệu trên T1W, giảm tín hiệu trên T2W do oxyhemoglobin), giai đoạn bán cấp (ngày 6-21, tăng tín hiệu dần trên T1W rồi T2W do chuyển hóa thành methemoglobin), và giai đoạn mạn tính (trên 21-35 ngày, tín hiệu không đồng nhất, có thể nhầm với huyết khối tái phát). Đối với hình ảnh xoang tĩnh mạch, có hai kỹ thuật MRV được áp dụng: chuỗi xung TOF 2D (nhanh, nhạy với dòng chảy nhưng không phân biệt được huyết khối với thiểu sản/bất sản xoang, kém nhạy với huyết khối tĩnh mạch vỏ đơn độc); và chuỗi xung T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ (được xem tương đương với chụp mạch số hóa xóa nền DSA và tốt hơn TOF trong đánh giá cấu trúc tĩnh mạch bình thường, tuy nhiên có thể cho kết quả âm tính giả trong giai đoạn mạn tính có tái thông dòng chảy).