Tạp chí thần kinh học Việt Nam

Chi tiết bài viết

Mô tả chi tiết bài viết

Trang chủ
Tổng quan Số phát hành: Số 36 - 2023 Chẩn đoán hình ảnh Thần kinh

Hình ảnh cộng hưởng từ não mạch não trong huyết khối tĩnh mạch não

Xuất bản: tháng 3 20, 2023
Lượt đọc: 0

Tóm tắt

Bài tổng quan của tác giả Phạm Thị Ngọc Linh và Võ Hồng Khôi mô tả các đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ tĩnh mạch não (MRV) trong huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN), một thể đột quỵ hiếm gặp chiếm 0,5-1% các trường hợp đột quỵ, tỷ lệ mới mắc 5/1.000.000 dân mỗi năm, thường gặp ở người trẻ tuổi (78% dưới 50 tuổi). Các tổn thương nhu mô não trong HKTMN bao gồm phù vận mạch (khác với phù độc tế bào trong nhồi máu não do thiếu máu cục bộ động mạch, có thể phân biệt qua hình ảnh DWI/ADC), nhồi máu tĩnh mạch (đặc trưng bởi tổn thương nhiều ổ, không thuộc khu vực tưới máu động mạch, khu trú dưới vỏ với ranh giới không rõ, tương ứng với vùng dẫn lưu của tĩnh mạch), và xuất huyết nhu mô não (gặp ở tới 1/3 số trường hợp, được phát hiện tốt nhất bằng chuỗi xung T2*). Huyết khối tĩnh mạch não sâu (16% số trường hợp) thường gây phù đồi thị hai bên, trong khi huyết khối tĩnh mạch vỏ đơn độc (2-5% số trường hợp) được xác định tốt nhất qua chuỗi xung GRE T2* với hình ảnh giảm tín hiệu quá mức do hiệu ứng nhạy từ. Tín hiệu của cục huyết khối thay đổi qua các giai đoạn thời gian đặc trưng: giai đoạn cấp rất sớm (1-5 ngày, đồng tín hiệu trên T1W, giảm tín hiệu trên T2W do oxyhemoglobin), giai đoạn bán cấp (ngày 6-21, tăng tín hiệu dần trên T1W rồi T2W do chuyển hóa thành methemoglobin), và giai đoạn mạn tính (trên 21-35 ngày, tín hiệu không đồng nhất, có thể nhầm với huyết khối tái phát). Đối với hình ảnh xoang tĩnh mạch, có hai kỹ thuật MRV được áp dụng: chuỗi xung TOF 2D (nhanh, nhạy với dòng chảy nhưng không phân biệt được huyết khối với thiểu sản/bất sản xoang, kém nhạy với huyết khối tĩnh mạch vỏ đơn độc); và chuỗi xung T1 3D sau tiêm thuốc đối quang từ (được xem tương đương với chụp mạch số hóa xóa nền DSA và tốt hơn TOF trong đánh giá cấu trúc tĩnh mạch bình thường, tuy nhiên có thể cho kết quả âm tính giả trong giai đoạn mạn tính có tái thông dòng chảy).

Từ khóa
Huyết khối tĩnh mạch não Cộng hưởng từ tĩnh mạch não (MRV) Nhồi máu tĩnh mạch Chuỗi xung GRE T2* TOF 2D/T1 3D sau tiêm thuốc

Tài liệu tham khảo

1.
G. S, F. B, D. BR, et al. Diagnosis and Management of Cerebral Venous Thrombosis: A Statement for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2011;42:1158-1192.
2.
P. C, Ferro J. M., Lindgren A. G., et al. Causes and Predictors of Death in Cerebral Venous Thrombosis. Stroke. 2005;36:1720-1725.
3.
Caso V, Agnelli G, Paciaroni M. Handbook on cerebral venous thrombosis. Karger Medical and Scientific Publishers; 2008:16-22.
4.
Leach JL, Fortuna RB, Jones BV, Gaskill-Shipley MF. Imaging of cerebral venous thrombosis: current techniques, spectrum of findings, and diagnostic pitfalls. Radiographics: a review publication of the Radiological Society of North America, Inc. 2006;26(suppl_1):S19-S41.
5.
Saposnik G, Barinagarrementeria F, Brown Jr RD, et al. Diagnosis and management of cerebral venous thrombosis: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke. 2011;42(4):1158-1192.

Tác giả

Phạm Thị Ngọc Linh Trường Đại học Y Hà Nội; Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội; Bệnh viện Bạch Mai Võ Hồng Khôi Trường Đại học Y Hà Nội; Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội; Bệnh viện Bạch Mai
Hình ảnh cộng hưởng từ não mạch não trong huyết khối tĩnh mạch não

Tệp

Trích dẫn

APA

Định dạng

Lượt xem bài0
Lượt xem tài liệu0
Lượt tải xuống0
Chuyên mục Tổng quan
Số phát hành Số 36 - 2023
Category Chẩn đoán hình ảnh Thần kinh
Trang 64-67
Chủ sở hữu bản quyền 2023 Tạp chí thần kinh học Việt Nam