Tạp chí thần kinh học Việt Nam

Chi tiết bài viết

Mô tả chi tiết bài viết

Trang chủ
Tóm tắt - Abstract Số phát hành: Số 34 - 2022 PHIÊN TOÀN THỂ SÁNG - HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC 2022

Thực trạng chẩn đoán và quản lý bệnh nhân teo cơ tủy tại Việt Nam

Xuất bản: tháng 7 15, 2026
Lượt đọc: 18

Tóm tắt

Teo cơ tủy là bệnh thần kinh cơ di truyền lặn nhiễm sắc thể thường (5q13). Tỷ lệ mới mắc bệnh là 1/10.000 trẻ đẻ sống và tần số người mang gen trong cộng đồng là 1/50. Bệnh được chia thành 4 thể dựa trên tuổi khởi phát và khả năng vận động. Thể I (bệnh Werdnig-Hoffmann), các triệu chứng xuất hiện từ lúc sinh đến 6 tháng tuổi và chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 60%); thể II triệu chứng bắt đầu từ 6 đến 12 tháng tuổi; thể III (bệnh Kugelberg-Welander) thường khởi phát bệnh từ 2 đến 15 tuổi; và thể IV thường khởi phát ở người lớn. Nguyên nhân của bệnh là do thoái triển các nơron vận động alpha của sừng trước tủy sống. Bệnh nhân mắc bệnh có mất đoạn đồng hợp tử exon 7 gen SMN1 mã hóa cho protein sống còn của neuron vận động (chiếm 98% bệnh nhân SMA). Trước năm 2016, bệnh nhân chỉ được điều trị triệu chứng với sự phối hợp đa chuyên khoa: phục hồi chức năng, hô hấp, dinh dưỡng, di truyền, thần kinh. Một số thuốc điều trị đặc hiệu đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt: nusinersen (Spinraza) năm 2016, và liệu pháp gen trị liệu Zolzensma năm 2019 hiện mang lại hiệu quả cải thiện khả năng vận động, hô hấp và chất lượng sống của bệnh nhân SMA, mặc dù khả năng tiếp cận thuốc còn hạn chế. Dữ liệu bệnh nhân SMA được chẩn đoán, điều trị và quản lý tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong 20 năm (2002-2022) bao gồm 721 bệnh nhân. Trong số này có 191 bệnh nhân được chẩn đoán trong 5 năm gần đây (2016-2021). Phân bố các thể lâm sàng của 191 bệnh nhân bao gồm: 66 (34,6%) thể I; 86 (45,1%) thể II, và 39 (20,3%) thể III. Tiền sử gia đình có 42 (22%) trẻ có anh/chị em ruột mắc SMA. Tuổi chẩn đoán trung vị của thể I, II và III tương ứng là 4,5 tháng; 2 tuổi và 5,5 tuổi. Tiến triển bệnh nhân SMA thể I nặng nhất: 87,2% tử vong với tuổi trung vị 10,5 tháng do viêm phổi và suy hô hấp; 53% SMA thể III ngồi có hỗ trợ; 56,4% SMA thể III không đi được. Tỷ lệ cong vẹo cột sống thể I, II và III lần lượt tương ứng là 75%, 74% và 56%. Liệu pháp gen thay thế (gene replacement therapy) cho bệnh nhân mắc SMA được bắt đầu từ tháng 2.2021. Đến nay đã có 23 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này. Trong báo cáo này, kết quả ban đầu về cải thiện vận động, các tác dụng phụ cũng sẽ được đề cập. 

Từ khóa
Teo cơ tủy sống (SMA) Gen SMN1/SMN2 Bệnh neuron vận động Liệu pháp gen thay thế Nhóm bệnh nhi Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1.
Farrar MA, Kiernan MC. The Genetics of Spinal Muscular Atrophy: Progress and Challenges. Neurotherapeutics. 2015;12(2):290-302.
2.
Ross LF, Kwon JM. Spinal Muscular Atrophy: Past, Present, and Future. Neoreviews. 2019;20(8):e437-e451.
3.
Schorling DC, Pechmann A, Kirschner J. Advances in Treatment of Spinal Muscular Atrophy - New Phenotypes, New Challenges, New Implications for Care. J Neuromuscul Dis. 2020;7(1):1-13.
4.
Albrechtsen SS, Born AP, Boesen MS. Nusinersen treatment of spinal muscular atrophy - a systematic review. Dan Med J. 2020;67(9).
5.
Hoy SM. Onasemnogene Abeparvovec: First Global Approval. Drugs. 2019;79(11):1255-1262.
6.
Waldrop MA, Elsheikh BH. Spinal Muscular Atrophy in the Treatment Era. Neurol Clin. 2020;38(3):505-518.
7.
Williams L. Spinal Muscular Atrophy in the Age of Gene Therapy. AACN Adv Crit Care. 2020;31(1):86-91.

Tác giả

Vũ Chí Dũng Bệnh viện Nhi Trung ương Nguyễn Ngọc Khánh Bệnh viện Nhi Trung ương
Thực trạng chẩn đoán và quản lý bệnh nhân teo cơ tủy tại Việt Nam

Tệp

Trích dẫn

APA

Định dạng

Lượt xem bài18
Lượt xem tài liệu13
Lượt tải xuống44
Chuyên mục Tóm tắt - Abstract
Số phát hành Số 34 - 2022
Category PHIÊN TOÀN THỂ SÁNG - HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC 2022
Trang 55-56
Chủ sở hữu bản quyền 2022 Tạp chí thần kinh học Việt Nam